Skip to main content

Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020

Quy hoạch phát triển Báo chí, Xuất bản tỉnh Lạng Sơn

Chiến lược, định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ, XUẤT BẢN

TỈNH LẠNG SƠN

            I. BÁO CHÍ

 

 

            1. Báo in

1.1. Số lượng cơ quan báo in

Giai đoạn 2010 - 2020 phát triển thêm số lượng các cơ quan báo chí theo định hướng sau:

- Giữ nguyên các cơ quan báo chí in hiện có: Báo Lạng Sơn, tạp chí văn nghệ xứ Lạng.

- Phát triển một số bản tin y tế, giáo dục, phục vụ nông nghiệp và phục vụ cho phát triển kinh tế vùng biên giới…

Nguyên tắc phát triển báo in là: Ngân sách nhà nước đầu tư các sản phẩm báo chí làm nhiệm vụ chính trị và công ích, các sản phẩm báo chí còn lại phải tự hạch toán kinh tế.

Đến năm 2015: báo Lạng Sơn và Lạng Sơn cuối tuần vẫn chịu sự bao cấp và là báo in chính trị.

- Các sản phẩm báo chí còn lại được tính 70-75% tin bài cho thông tin chính trị và công ích.

- Các sản phẩm tạp chí là 55-60% tin bài cho thông tin chính trị và công ích.

Năm 2020: báo Lạng Sơn hàng ngày, Lạng Sơn cuối tuần và Lạng Sơn cuối tháng là công ích.

 

- Các sản phẩm báo in còn lại được tính 25-30% tin bài cho thông tin chính trị và công ích.

 

- Các sản phẩm tạp chí được tính 15- 20% tin bài cho thông tin chính trị và công ích.

Sau năm 2020: cố gắng phấn đấu ngoài báo Lạng Sơn, Lạng Sơn cuối tuần và Lạng Sơn cuối tháng thì các sản phẩm khác sẽ tự chủ về kinh tế.

Đối tượng khuyến khích: phục vụ giải trí, đời sống tinh thần của người dân, cung cấp thông tin kinh tế phục vụ ngành nghề địa phương, phục vụ cho sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế nông thôn, thị trường vật tư, hàng hóa…

Phát triển tờ báo Ngoại văn vì Lạng Sơn là vùng đất cổ và có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là nơi có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị quan trọng trong vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc với các nước ASEAN; có các cửa khẩu phục vụ cho trao đổi hàng hóa của cả nước.

Đối với các tờ báo hiện tại, quy hoạch đến năm 2020 cụ thể như sau:

Báo Lạng Sơn:

Đến năm 2015:

- Phát hành nhật báo.

- Thêm ấn phẩm phục vụ độc giả vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

- Thêm ấn phẩm Lạng Sơn cuối tuần.

- Cơ chế cho ấn phẩm mới: ấn phẩm phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới sẽ do ngân sách tỉnh hỗ trợ, ấn phẩm cuối tuần do ngân sách tỉnh cấp.

- Số lượng phát hành báo Lạng Sơn: 10.000 bản/số

Đến năm 2020:

- Thêm ấn phẩm Lạng Sơn cuối tháng.

- Thêm bản tin nhanh cập nhật thông tin trong ngày.

- Phấn đấu đến năm 2020, số lượng phát hành báo Lạng Sơn đạt từ 20.000 bản/số báo trở lên.

Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng

Đến năm 2015:

- Phát triển số lượng ấn phẩm đạt 5%/năm.

- Kỳ hạn xuất bản 1 số/tháng

- Giữ nguyên khổ 19x27cm.

- Tăng trang từ 36 lên 48 trang.

- Về hình thức sẽ tăng cường các trang màu, ảnh màu đối với các trang nội dung. Trong thời gian tới sẽ tăng thêm trang thơ, ảnh, mỹ thuật và trang địa phương.

- Phát hành thêm phụ trương.

Đến năm 2020:

- Giữ nguyên khổ 19x27cm.

- Tăng kỳ hạn xuất bản từ 1 số/tháng thành 2 số/tháng

- Tăng số lượng phát hành: 1500 cuốn/số

- Tiếp tục tăng số trang lên 60 trang.

Tập san Người làm Báo Lạng Sơn

            Đến năm 2015:

- Xuất bản định kỳ 2 số/năm

- Số lượng 400 - 500 cuốn/số

- Giữ nguyên khổ 20x28cm

            Đến năm 2020:         

- Phát triển tập san thành tạp chí.

- Xuất bản định kỳ từ 3 - 4 số/năm.

- Giữ nguyên khổ 20x28cm,

- Số lượng từ 500 - 800 cuốn/kỳ.

Bản tin nghiệp vụ văn hóa thông tin  

Đến năm 2015:

- Xuất bản 2 kỳ/tháng.

- Phát hành không chỉ trong nội bộ mà đến mọi người dân trong tỉnh.

Đến năm 2020:

- Xây dựng 2 ấn phẩm là:

+ Tờ tin nghiệp vụ Văn hóa thể thao và Du lịch: 1 số/tháng, số trang từ 15-20 trang. Giữ nguyên khổ.

+ Bản tin Văn hóa Thể thao và Du lịch: 1 số/tháng. Dày từ 35-40 trang, có ảnh

 

           Bản tin thông báo nội bộ

 

Nội dung sẽ đa dạng, phong phú hơn theo hướng cung cấp những thông tin mang tính phổ biến, giới thiệu kinh nghiệm hay, kiến thức áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

Tăng trang lên 45-50 trang, bố trí 1-2 biên tập viên chuyên trách.

- Phát hành 2 kỳ/tháng, qua đường bưu điện đến từng chi bộ.

Thông tin Tuổi trẻ xứ Lạng

Giữ nguyên kỳ xuất bản, số lượng phát hành, số trang và khuôn khổ.

Tập trung xây dựng nội dung theo hướng cung cấp những thông tin mang tính tuyên truyền, phổ biến đến đúng đối tượng của ấn phẩm.

1.2. Nội dung báo in

Nội dung báo in tiếp tục phát huy những điểm mạnh đã làm được, định hướng nội dung còn thiếu và yếu, đặc biệt là mảng nội dung hướng đến đối tượng là người dân, với mục tiêu giải trí và cập nhật thông tin.

1.3. Phạm vi phục vụ

Thực hiện mở rộng phạm vi phục vụ các ấn phẩm báo in đến tận thôn, bản và các vùng miền sâu xa của tỉnh.

1.4. Nguồn nhân lực

Đến năm 2015:

Lao động có trình độ đại học là 85%; 65% lao động có trình độ chính trị trung, cao cấp và có 5% lao động có trình độ trên đại học.

Đến năm 2020:

Có số lao động khoảng 110 người trong đó Báo Lạng Sơn có 60 người, Tạp chí văn nghệ Xứ Lạng có 10 người, Tập san “Người làm báo Lạng Sơn” có 10 người và bản tin có khoảng 5 người. Phấn đấu có 95% đội ngũ lao động trình độ đại học trở lên và được đào tạo chuyên ngành báo chí .

2. Phát thanh

           2.1. Cơ sở hạ tầng

           Hạ tầng kỹ thuật phát thanh tại đài Phát thanh truyền hình tỉnh:

Đến năm 2015:

Xây dựng thêm 1 phòng thu, nâng số lượng phòng thu lên là 3 phòng, sản xuất chương trình trên máy tính; truyền dẫn tín hiệu analog kết hợp số với 2 máy phát tại Đài tỉnh công suất 1.000 W và 10.000 W.

Đến năm 2020:

Nâng công suất máy phát lên là 5.000 W và 15.000 W.

Hạ tầng kỹ thuật phát thanh tại đài huyện và cơ sở:

Đến năm 2015:

Xây dựng thêm trạm phát, nâng cấp công suất phát tại các vùng, địa bàn tập trung nhiều dân cư.

Xây dựng các trạm truyền thanh, khối phố.

Đến năm 2020:

Đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống phòng thu, máy phát và các trang thiết bị  sản xuất chương trình hiện đại phù hợp với quy hoạch truyền dẫn phát sóng của cả nước.

Nâng cao công suất phát để các đài có thể tự sản xuất chương trình truyền thanh; trang bị tăng âm và nâng cấp công suất phát lên 500W.

2.2. Nội dung chương trình

Mỗi ngày sản xuất 4 chương trình phát thanh tiếng Việt, 3 chương trình phát thanh tiếng Dao, tiếng Tày - Nùng với tổng thời lượng phát sóng 10h/ngày.

Từng bước đổi mới công nghệ phát thanh, hiện đại hóa hệ thống sản xuất chương trình, truyền dẫn phát sóng phát thanh, đảm bảo Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Lạng Sơn là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Phát triển sự nghiệp phát thanh gắn liền với nâng cao phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và từng bước cải thiện đời sống của cán bộ, viên chức của bộ phận phát thanh tỉnh Lạng Sơn; phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan và các huyện thực hiện quy hoạch phát triển chung của hệ thống phát thanh, truyền thanh cơ sở tỉnh Lạng Sơn.

Các trạm truyền thanh đều có thể tự sản xuất chương trình cho mình.

Phát triển mạnh hệ thống truyền thanh cấp xã phường đến đông đảo người dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng nội dung của chương trình truyền thanh xã, đặc biệt là khu vực không có sóng truyền hình tỉnh.

 

Đầu tư từ nguồn kinh phí hỗ trợ phát thanh các chương trình văn hóa - xã hội, phát thanh tiếng dân tộc và chương trình trợ giá, trợ cước cho các trạm truyền thanh xã, phường, thị trấn.

 

2.3. Sản xuất chương trình

Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và công nghệ mạng máy tính trong việc sản xuất chương trình; xây dựng mô hình sản xuất chương trình phù hợp với tổ chức hệ chương trình mới; thống nhất về công nghệ, quy mô và thực hiện số hóa hệ thống lưu trữ âm thanh.

Xây dựng Tổ hợp Biên tập - Kỹ thuật phát thanh - Trung tâm sản xuất chương trình theo công nghệ phát thanh hiện đại tại Đài; từng bước đầu tư xây dựng các hệ thống sản xuất chương trình với quy mô phù hợp; xây dựng mạng kết nối diện rộng giữa Trung tâm tỉnh với các đài huyện.

Tăng cường khả năng trao đổi thông tin, chương trình với các đài huyện và các đài tỉnh bạn; tăng thời lượng phát thanh trực tiếp tại phòng thu và từ các địa điểm có các sự kiện lớn thông qua xe thu lưu động và cơ sở hạ tầng viễn thông.

2.4. Truyền dẫn và phát sóng

Kết hợp nhiều phương thức truyền dẫn, phát sóng nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phủ sóng trong toàn tỉnh; đầu tư, nâng cấp, mở rộng hệ thống phát sóng phủ sóng những khu vực có địa hình khó khăn bằng sóng ngắn kết hợp phát sóng trực tiếp qua vệ tinh;

Xây dựng đề án số hóa mạng lưới truyền dẫn phát sóng phát thanh mặt đất phù hợp với lộ trình số hóa quốc gia.

Đối tượng số hóa: sẽ số hóa phát thanh tỉnh và truyền thanh cấp huyện.

Lộ trình số hóa:

- Giai đoạn đến năm 2015:

Tiếp tục phát triển mạng lưới các đài phát sóng FM theo phương án rải mạng nhằm nâng cao chất lượng phủ sóng. Sử dụng những bộ máy phủ sóng FM có độ chính xác cao, kết hợp với các giải pháp đồng bộ thời gian và tần số thông qua hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) để có thể thiết lập mạng FM đơn tần.

Triển khai các phương án truyền dẫn qua Internet để tăng cường khả năng dự phòng cho hệ thống truyền dẫn tín hiệu phát thanh.

Nghiên cứu xây dựng phương án và lộ trình chuyển đổi từ phát thanh tương tự sang phát thanh số.

- Giai đoạn từ năm 2015 đến 2020.

Khuyến khích triển khai đầu tư hệ thống truyền dẫn phát sóng phát thanh số tại các khu vực và địa bàn có đủ điều kiện chuyển đổi như thành phố Lạng Sơn, khu vực cửa khẩu và khu vực các thị trấn.

Khuyến khích các doanh nghiệp trong tỉnh nhập khẩu máy phát thanh số, máy thu thanh số; chuyển đổi sang truyền dẫn, phát sóng phát thanh mặt đất sử dụng công nghệ số trước năm 2020.

Trong đó đặc biệt chú trọng giải pháp huy động vốn đầu tư và giải pháp hỗ trợ thiết bị cho người dân.

Đối với giải pháp huy động vốn, tận dụng nguồn vốn từ chương trình số hóa quốc gia, chương trình số hóa vùng và của các quỹ hỗ trợ quốc tế dành cho Việt Nam.

Phối hợp với đơn vị cung cấp thiết bị hạ tầng, cùng thực hiện các dự án hỗ trợ thiết bị; hỗ trợ thêm bằng nguồn ngân sách tỉnh, hoặc dự án hỗ trợ thiết bị số của quốc gia, đảm bảo phát triển thiết bị số đến người dân một cách tốt nhất.

Đảm bảo chỉ tiêu đa số các hộ gia đình ở vùng khó khăn có nhu cầu thu xem, được cung cấp thiết bị thu các chương trình phát thanh kỹ thuật số với giá phù hợp.

2.5. Phương tiện thu xem

Tiếp tục thực hiện dự án công ích của Chính phủ đưa thiết bị thu thanh đến các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào các dân tộc thiểu số, phấn đấu đến năm 2020 có 100% hộ dân có phương tiện nghe nhìn.

 

3. Truyền hình

 

3.1. Số lượng và mô hình tổ chức

Giữ nguyên đài Truyền hình tỉnh Lạng Sơn.

Đài truyền hình tỉnh Lạng Sơn sẽ dần chia thành mảng truyền hình quảng bá và các mảng còn lại. Nội dung quảng bá sẽ do tỉnh tài trợ dưới nhiều hình thức, nội dung còn lại đài tỉnh sẽ dần tự chủ.

Xác định sản phẩm thông tin quảng bá của Đài Phát thanh và Truyền hình là kênh LSTV và các kênh trong chương trình quảng bá của VTV.

  Ngân sách Nhà nước đầu tư sản xuất chương trình, tổ chức truyền dẫn và phát sóng các sản phẩm thông tin quảng bá.

Chia làm 2 mảng truyền dẫn phát sóng và nội dung, theo xu hướng đài tỉnh chỉ làm về nội dung, mảng truyền dẫn phát sóng sẽ do các đơn vị khác thực hiện theo tinh thần quy hoạch truyền dẫn phát sóng quốc gia.

3.2. Nội dung, thời lượng chương trình

Đến năm 2015 phát thêm một kênh truyền hình số, nội dung theo hình thức xã hội hóa từng phần, truyền dẫn phát sóng sẽ thuê lại của các doanh nghiệp.

Giai đoạn 2016 - 2020 phát triển thêm kênh truyền hình số theo nhu cầu, nội dung chương trình sẽ theo hướng xã hội hóa và tương tác.

Đối với chương trình quảng bá LSTV quy hoạch cụ thể như sau:

Đến năm 2020 Đài Lạng Sơn sản xuất một chương trình truyền hình thời lượng 60 phút, bản tin buổi trưa thời lượng 25 phút, phát sóng chương trình truyền hình địa phương 8h/ngày.

Tăng thời lượng phát sóng lên 24 giờ/ngày gồm: chương trình truyền hình Lạng Sơn và tiếp sóng chương trình VTV2 và VTV6.

Bên cạnh đó thì cần duy trì và tăng số lượng các chuyên mục, chuyên đề, thông tin thời sự của Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn, thực hiện tường thuật trực tiếp nhiều sự kiện lớn của tỉnh, các chương trình văn hóa văn nghệ đặc biệt của địa phương.

3.3. Sản xuất chương trình

Đổi mới, nâng cao công nghệ số trong sản xuất chương trình; xây dựng dây chuyền sản xuất phù hợp với thời lượng chương trình, đồng bộ về công nghệ thiết bị; thực hiện số hóa hệ thống lưu trữ tư liệu truyền hình.

Tăng cường hợp tác sản xuất, trao đổi chương trình truyền hình với các đài địa phương, các đài tỉnh bạn, các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức khác trong xã hội.

Tăng cường khả năng trao đổi thông tin, mua bản quyền và nâng cao chất lượng biên tập, biên dịch các chương trình truyền hình nước ngoài, hợp tác với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài tỉnh để sản xuất, trao đổi, khai thác chương trình và cung cấp các dịch vụ truyền hình trả tiền cho các hộ dân có nhu cầu xem truyền hình ở mức cao hơn.

Đến năm 2010 phát triển thêm các chuyên mục và chuyên đề của đài truyền hình LSTV, hoàn thiện hệ thống thu phát sóng kênh VTV2, VTV6.

Đến năm 2015 đầu tư thêm 1 phòng dựng cho kênh chương trình giải trí và thông tin kinh tế mới. Đầu tư thêm máy dựng hình phi tuyến cho đài tỉnh và các đài huyện. Hoàn thiện hế thống sản xuất chương trình của các đài huyện, thống nhất nội dung sản xuất và thời lượng thu phát sóng, tránh trùng lặp chương trình gây lãng phí.

Đến năm 2020 đầu tư thêm 2 phòng dựng cho các chương trình mới, với hệ thống phòng thu phát sóng hiện đại, đáp ứng có thể sản xuất nhiều chương trình truyền hình số đặc sắc và sống động.

3.4. Truyền dẫn và phát sóng

Đến năm 2015: duy trì thời lượng thu phát sóng 4 kênh sóng của Đài truyền hình Lạng Sơn hiện tại nhưng tăng công suất các kênh lên, cụ thể như sau:

 Kênh 12 với công suất  1000 W phát sóng 100% thời lượng chương trình VTV1 với thời lượng là 20h/ngày;

Kênh 7 với công suất 5.000 W phát sóng 24h/24h chương trình VTV3; kênh 10 với công suất phát (5.000 W)

Kênh 33 với công suất phát (5.000 W) phát sóng 21h/ngày bao gồm  chương trình truyền hình Lạng Sơn, tiếp sóng chương trình VTV2 và VTV6.

Lộ trình số hóa truyền dẫn phát sóng truyền hình mặt đất như sau:

- Giai đoạn từ nay đến 2010:

Từ nay đến 2010 hoàn thành việc phát triển mạng truyền dẫn phát sóng truyền hình tương tự. Ngoài ra, điều chỉnh công suất đối với các máy phát hiện có hoặc đầu tư thêm các máy phát có công suất phù hợp nhằm đạt mục tiêu phủ sóng đã đề ra đến 2010, không gây can nhiễu cho các hệ thống thông tin vô tuyến điện khác.

Triển khai đầu tư hệ thống truyền dẫn phát sóng số lần lượt theo từng vùng như sau: khu vực ưu tiên là khu vực thành phố Lạng Sơn, sau đến trung tâm các huyện, khu vực cửa khẩu, khu tập trung dân cư và cuối cùng là các khu vực còn lại.

Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, các tổ chức, doanh nghiệp viễn thông tham gia hoạt động truyền dẫn phát sóng cùng phối hợp sử dụng chung cơ sở hạ tầng bao gồm nhà, trạm, cột anten, nguồn điện... để triển khai phủ sóng Phát thanh truyền hình một cách hiệu quả.

Nghiên cứu, xây dựng chính sách, biện pháp và lộ trình chuyển đổi sang truyền hình số mặt đất, nhập khẩu máy phát hình, máy thu hình số.

- Giai đoạn từ 2010 – 2015:

Đài Phát thanh truyền hình tỉnh sẽ sử dụng hệ thống truyền dẫn, phát sóng số của các tổ chức, doanh nghiệp đã có giấy phép triển khai trên địa bàn để truyền tải nội dung, chương trình của địa phương đến người sử dụng.

Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn tiếp tục phát song song các chương trình truyền hình số và tương tự trên địa bàn. Khuyến khích Đài tỉnh ngừng phát sóng tương tự và chuyển hoàn toàn sang phát sóng truyền hình số trên hạ tầng truyền dẫn phát sóng của các tổ chức, doanh nghiệp được cấp phép.

Sử dụng phương thức truyền dẫn phát sóng qua vệ tinh đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi... nơi mà việc xây dựng và phát triển mạng truyền hình số mặt đất gặp nhiều khó khăn.

Triển khai hỗ trợ về giá bán đầu thu số cho người sử dụng tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn...

Liên kết với các đơn vị khác phát triển kênh sóng và thời lượng phát sóng số.

- Giai đoạn từ 2015 – 2020:

Đài tỉnh phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp được cấp phép thiết lập hạ tầng mạng truyền dẫn phát sóng Phát thanh truyền hình số đầu tư, xây dựng hệ thống truyền dẫn, phát sóng số mặt đất tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi.

Từng bước ngừng phát sóng truyền hình tương tự mặt đất tại những khu vực đã đáp ứng đủ các điều kiện chuyển đổi sang công nghệ số. Ở các khu vực còn lại vẫn tiếp tục phát sóng truyền hình tương tự song song với truyền hình số mặt đất.

Đài Phát thanh truyền hình tỉnh phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp có giấy phép thiết lập mạng truyền dẫn, phát sóng Phát thanh truyền hình số mặt đất trên địa bàn từng bước chuyển toàn bộ các chương trình truyền hình sang truyền tải trên hạ tầng truyền dẫn phát sóng truyền hình số mặt đất.

Triển khai các dự án sản xuất và cung cấp đầu thu truyền hình số mặt đất giá rẻ cho các hộ gia đình. Ngừng việc nhập khẩu và đầu tư mới sản xuất các máy phát truyền hình tương tự.

Chấm dứt hoàn toàn việc truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất sử dụng công nghệ tương tự trước năm 2020.

Ngoài ra đài Phát thanh truyền hình tỉnh Lạng sơn nghiên cứu thúc đẩy phát triển Phát thanh truyền hình Internet để phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại và nhu cầu thông tin, giải trí của nhân dân, nhất là với người dân Lạng Sơn đang sinh sống tại các tỉnh khác.

Nhanh chóng áp dụng các công nghệ vô tuyến băng rộng để phát triển các dịch vụ Phát thanh truyền hình di động.

            3.5. Phương tiện thu xem

           Tranh thủ các chương trình dự án hỗ trợ thiết bị xem truyền hình cho người dân khu vực kinh tế khó khăn.

Có chính sách hỗ trợ thiết bị xem truyền hình cho người dân tộc thiểu số khó khăn, sống trong các khu vực cách xa với khu dân cư tập trung.

Phấn đấu đến năm 2020 thì 100% hộ dân có thể xem truyền hình của Lạng Sơn với thiết bị thu hình chất lượng.

3.6. Nguồn nhân lực

Tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và nhân viên. Ưu tiên phát triển đội ngũ có năng lực và phẩm chất, phấn đấu:

Đến năm 2010:

Đài truyền hình Lạng Sơn đội ngũ lao động có 120 người, trong đó đội ngũ có trình độ đại học chiếm 55% và có 86% tốt nghiệp chuyên ngành báo chí. Hàng năm thì đều có chính sách cử cán bộ và nhân viên đi học và đào tạo các khóa học về nghiệp vụ truyền hình.

Mỗi đài truyền hình của 11 đơn vị hành chính có bình quân 25 người/đài, trong đó trình độ đại học chiếm 50%.

Đến năm 2015:

Đài truyền hình Lạng Sơn có 170 người, trong đó tỷ lệ đại học chiếm 80% và có 90% tốt nghiệp chuyên ngành báo chí ra. Phấn đấu đội ngũ có trình độ trên đại học là 15%.

Truyền hình cơ sở của các huyện tăng lên đạt bình quân 35 người/đài và tỷ lệ cán bộ, phóng viên, biên tập viên có trình độ đại học, cao đẳng là 85%.

Đến năm 2020:

Đài truyền hình Lạng Sơn có 220 người trong đó đội ngũ cán bộ, phóng viên biên tập viên có trình độ đại học là 95% và hầu hết đều tốt nghiệp các trường chuyên ngành báo chí ra.

Hầu hết các đài truyền hình huyện có trình độ đại học và trên đại học và tốt nghiệp chuyên ngành báo chí.

            4. Truyền hình cáp

 

Năm 2010, phối hợp với đơn vị cung cấp nội dung duy trì, nâng cao chất lượng nội dung truyền hình cáp trên 42 kênh truyền hình. Mở rộng phạm vi cung cấp ra toàn bộ khu vực thành phố Lạng Sơn và các huyện khác với số thuê bao đạt khoảng 7.500 thuê bao.

 

Năm 2015, nâng số lượng kênh lên 45 kênh truyền hình. Mở rộng phạm vi cung cấp tại các khu vực trung tâm thị trấn các huyện trên địa bàn tỉnh. Số thuê bao đạt khoảng 8.700 thuê bao.

 

Năm 2020, nâng số lượng kênh lên 50 kênh truyền hình, mở rộng phạm vi cung cấp tại toàn bộ tỉnh Lạng Sơn với số thuê bao đạt khoảng 9.800 thuê bao. Truyền hình cáp chuyển sang dùng công nghệ số, dừng hẳn sản xuất chương trình bằng công nghệ tương tự.

Thị trường truyền hình cáp

Ưu tiên phát triển phát thanh truyền hình cáp tại những vùng thành thị, những vùng có mật độ dân cư cao như thành phố Lạng Sơn, khu vực cửa khẩu, khu vực thị trấn các huyện.

Phân biệt hoạt động cung cấp nội dung thông tin và hoạt động xây dựng hạ tầng mạng phát thanh truyền hình cáp để hình thành và thúc đẩy phát triển thị trường truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình cáp.

Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh theo cơ chế thị trường trong hoạt động cung cấp dịch vụ truyền dẫn phát sóng  phát hành phát thanh truyền hình cáp để người tiêu dùng có được dịch vụ với chất lượng tốt và giá cả phù hợp.

Mạng lưới:

Mạng phát thanh truyền hìnhcáp phải được phát triển theo hướng tăng cường sử dụng cáp sợi quang và nâng cao tỷ lệ cáp ngầm để bảo đảm chất lượng dịch vụ và mỹ quan đô thị.

Mạng lưới phát thanh truyền hìnhcáp có khả năng truyền tải các tín hiệu phát thanh truyền hình, viễn thông và Internet trên một hạ tầng thống nhất phù hợp với xu hướng hội tụ công nghệ và dịch vụ.

Phấn đấu đến năm 2020 truyền hình cáp sẽ tách bạch giữa việc xây dựng hạ tầng mạng và cung cấp nội dung, đài truyền hình cáp sẽ chỉ làm về cung cấp nội dung, hạ tầng đi thuê lại.

5. Phát triển dịch vụ truyền hình IPTV kết hợp với mạng Viễn thông

Đây là loại hình dịch vụ mới sẽ được triển khai đầu năm 2010, IPTV - Internet Protocol TV - mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng viễn thông, là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng rộng IP phục vụ cho nhiều người dùng (user). Các user có thể thông qua máy vi tính PC hoặc máy thu hình phổ thông cộng với hộp phối ghép set topbox để sử dụng dịch vụ IPTV.

IPTV có đặc điểm cơ bản là dựa trên nền công nghệ IP và phục vụ theo nhu cầu,  ưu điểm của dịch vụ IPTV so với hệ thống truyền hình cáp CATV hiện nay là có nhiều đổi mới về dạng tín hiệu cũng như phương thức truyền bá nội dung. Trong khi truyền hình số thông qua các menu đã định trước (thậm chí đã định trước hàng tuần, hoặc hàng tháng) để các user lựa chọn, thì IPTV có thể đề cao chất lượng phục vụ có tính tương tác và tính tức thời. Người sử dụng (user hoặc viewer) có thể tự do lựa chọn chương trình TV của mạng IP băng rộng. Với ý nghĩa đúng của phương tiện truyền thông (media) giữa server và user.

Giai đoạn đầu sẽ triển khai ở Thành phố và thị trấn các huyện trên địa bàn tỉnh, cùng với nội dung chương trình phong phú và giá thành cạnh tranh so với truyền hình cáp…dự báo sẽ phát triển rất nhanh số thuê bao trong thời gian tới…

 

6. Báo điện tử

 

Với quan điểm tách biệt báo chí quảng bá và báo chí kinh doanh, tỉnh sẽ chủ trương hỗ trợ kinh phí duy trì 1 – 2 tờ báo điện tử có nội dung phục vụ chính trị.

Đối với trang tin điện tử của báo Lạng Sơn, tập trung phát triển nội dung và thu hút bạn đọc, tạm thời phát triển để hỗ trợ báo in.

Chậm nhất đến năm 2018 phát triển trang tin điện tử báo Lạng Sơn thành báo điện tử Lạng Sơn.

Khuyến khích phát triển các cơ quan báo chí, các sở, ban, ngành trong tỉnh ra các tờ báo điện tử trên nguyên tắc tự chủ về kinh phí.

Khuyến khích nội dung của các tờ báo điện tử hướng đến giáo dục, y tế, nông nghiệp nông thôn, kinh tế vùng biên, xuất nhập khẩu, phát triển làng nghề địa phương, phát triển du lịch.

6.1. Đối với các trang tin điện tử

Giai đoạn 2010 - 2015 số lượng trang tin điện tử của tỉnh sẽ phát triển rất lớn. Phấn đấu tất cả các sở, ban, ngành trong tỉnh, các huyện, đều thiết lập trang tin điện tử.

Khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển các trang tin điện tử, dùng thông tin điện tử phát triển doanh nghiệp.

6.2. Biên tập nội dung và tổ chức sản suất chương trình

Đối với bộ phận làm trang tin điện tử báo Lạng Sơn: cần thiết nghiên cứu và ứng dụng một mô hình tòa soạn điện tử. Bộ phận này có vai trò hỗ trợ lại hoạt động tác nghiệp lấy tin cho báo giấy.

Mô hình tòa soạn điện tử phải đảm bảo các yếu tố sau:

Mô hình cho phép phóng viên có thể viết bài hoặc biên tập viên có thể biên tập bài từ bất cứ máy tính nào có kết nối internet hoặc kết nối mạng với Toà soạn. Tất cả các bài viết, hình ảnh đều được lưu trữ tập trung tại một máy chủ của Toà soạn. Phóng viên, biên tập viên được phép gửi bài theo những đường dẫn đã được định sẵn. Mỗi người trong hệ thống đều có hàng đợi riêng lưu trữ những bài đang viết dở, những bài chờ biên tập hoặc nhận phản hồi từ đồng nghiệp, cấp trên về bài viết của mình.

Hệ thống cho phép các biên tập viên có thể biên tập, xem bài viết gửi đến cho mình, gửi tiếp cho cấp trên hoặc gửi lại cho tác giả hoặc cấp dưới. Hỗ trợ cơ chế đồng biên tập, tức là một bài viết được gửi cho nhiều người trong cùng một nhóm và tất cả đều có thể đọc và sửa bài viết đó (việc sửa bài thực hiện theo thứ tự, người nào mở bài người đó được quyền sửa, khi đó những người khác không thể mở bài viết đó được hệ thống sẽ thông báo có một người đang đọc hoặc sửa bài đó.

Hệ thống cũng cho phép bộ phận chế bản chuyển mã nội dung sang môi trường chế bản để dàn trang và xuất bản (báo in).

Cho phép người quản lý có thể định nghĩa, phân quyền gửi bài viết giữa những nhóm làm việc khác nhau và dễ dàng quản lý người dùng.

Hỗ trợ cơ chế quản lý phiên bản và theo dõi lịch sử bài viết. Tất cả các phiên bản của một bài viết đều được lưu trữ theo từng công đoạn và từng phiên bản, cho phép kiểm tra chính xác người dùng nào đã sửa chữa, đã đưa bài lên mạng (đối với báo điện tử) chính xác đến từng thời điểm.

Hệ thống Toà soạn điện tử của Báo còn phải sử dụng thư viện điện tử dùng để quản lý ảnh và quản lý thư viện báo in.

Đối với phần mềm quản lý quảng cáo, hệ thống cho phép quản lý mọi thông tin về quảng cáo, quản lý vị trí đăng quảng cáo và các khách hàng

Mô hình này ứng dụng hệ thống tác nghiệp trên mạng Internet, từ việc gửi bài, viết bài, góp ý, duyệt bài, đăng bài, chuyển sang bộ phận in báo giấy đều ứng dụng công nghệ thông tin.

6.3. Nguồn nhân lực

Cần có chính sách để đào tạo đội ngũ cán bộ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên các tờ báo điện tử. Hợp tác với các tổ chức và trường đào tạo các khóa học về kỹ năng chuyên sâu về báo điện tử trong và ngoài nước.

Có cơ chế, chính sách đãi ngỗ nguồn nhân lực chất lượng cao và tâm huyết với nghề. Tạo điều kiện cho đội ngũ vừa làm việc vừa học tập để củng cố và nâng cao chuyên môn. Hoàn thiện bộ máy và cơ cấu tổ chức của các tờ báo để có thể phát triển và hỗ trợ kinh phí cho báo in trong hoàn cảnh mới.

6.4.  Định hướng phát triển dịch vụ

Báo điện tử ngoài việc cung cấp thông tin là nhiệm vụ chính, báo điện tử có thể mang lại doanh thu rất lớn nếu nội dung được đầu tư, số lượt người truy cập lớn, các trang tin điện tử có thể kinh doanh quảng cáo, kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin điện tử.

Xu hướng trong thời gian tới, các tờ báo điện tử sẽ đầu tư và phát triển mạnh các dịch vụ về nội dung, khi trang tin điện tử hoặc tờ báo điện tử đã có số lượng bạn đọc lớn, khi đó là lúc người đọc sẽ phải trả phí để có những nội dung thông tin có tính phân tích và tổng hợp. Người đọc sẽ trả phí thông qua nhiều hình thức, nhưng chủ yếu sẽ là thanh toán điện tử.

Tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tác động của mạng thông tin toàn cầu và các báo điện tử đến sản xuất và đời sống xã hội. Đổi mới nội dung, phương thức chỉ đạo, quản lý của các cơ quan nhà nước đối với báo chí điện tử.

Xây dựng các tờ báo điện tử tại Lạng Sơn có kỹ thuật và công nghệ hiện đại, phong phú về nội dung, sắc bén về tính định hướng, tính chiến đấu, có tính văn hóa, tính nghiệp vụ cao, để báo điện tử trở thành công cụ quảng bá hình ảnh Lạng Sơn với cả nước và thế giới.

II. XUẤT BẢN, IN VÀ PHÁT HÀNH

1.Nội dung quy hoạch

1.1 Lĩnh vực Xuất bản

1.1.1 Về cơ cấu đề tài

            Sách chính trị xã hội:

Ở giai đoạn này, tập trung xuất bản thông qua các nhà xuất bản lớn các đề tài phục vụ công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương; Nghị quyết, văn bản pháp luật được thông qua tại các kỳ họp của Quốc hội và các loại sách nhằm triển khai, thực hiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước trên mọi mặt của đời sống xã hội.

- Các biện pháp, các điển hình duy trì và phát triển sản xuất, khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, của dịch bệnh, thiên tai…

- Các biện pháp, các điển hình về triển khai thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Lạng Sơn và các hoạt động hướng tới các ngày lễ, kỷ niệm trọng đại của năm 2010.

- Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với đợt sinh hoạt chính trị 40, 45, 50 năm làm theo di chúc Bác Hồ.

- Những vấn đề xã hội khác: cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, cải cách hành chính, ô nhiễm môi trường, đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn di sản văn hóa, chính sách dân tộc và tôn giáo…

Sách khoa học kỹ thuật và công nghệ:

Muốn xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Lạng Sơn, đưa Lạng Sơn trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 thì không còn con đường nào khác là phải đưa nhanh các thành tựu khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới vào thực tiễn sản xuất. Một trong những con đường đó là đưa thành tựu KHKT vào cuộc sống thông qua xuất bản phẩm. Vì vậy, việc tăng số đầu sách, bản sách KHKT là đòi hỏi tất yếu, khách quan của nước ta hiện nay, đồng thời cũng là một tiêu chí để đánh giá một nước có nền kinh tế phát triển hay không.

Cần tập trung hướng vào các mảng đề tài sau đây:

Những đề tài phục vụ cho chuyển giao, lựa chọn, đổi mới công nghệ nhằm tiếp thu những thành tựu công nghệ mới để đẩy nhanh sự phát triển của tỉnh.

Những đề tài cung cấp luận cứ khoa học cho việc quyết định các chính sách quản lý kinh tế xã hội, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành kinh tế, phát huy khai thác các nguồn lực, chuyển đổi cơ cấu kinh tế...

Những đề tài phục vụ cho việc xây dựng và phát triển công nghệ cao, công nghệ thông tin, sinh học, tự động hóa, điện tử, cơ khí chính xác, công nghệ vật liệu mới... chú trọng những đề tài đẩy mạnh nghiên cứu triển khai ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất.

Cần đặc biệt chú trọng các mảng sách đề tài về khoa học kỹ thuật nông nghiệp đáp ứng nhu cầu xây dựng nền nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững.

Sách giáo dục:

Trong thời gian tới, mảng sách giáo dục vẫn được tập trung tại nhà xuất bản giáo dục, do vậy xuất bản Lạng Sơn sẽ không tham gia xuất bản sách giáo dục.

Sách văn học nghệ thuật: 

Sách văn học nghệ thuật - một mảng không thể thiếu được trong cơ cấu xuất bản sách của nước ta hiện nay. Chính mảng sách này phản ánh hiện thực cuộc sống sinh động, sâu sắc sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cũng như xây dựng CHXH và tái hiện lịch sử kiên cường, vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Do vậy, việc tăng số bản sách văn học cũng là một tất yếu khách quan.

Xuất bản sách văn nghệ cần tập trung hướng vào các đề tài phản ánh hiện thực cuộc sống sinh động, chân thực và sâu sắc sự nghiệp cách mạng của nhân dân trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như tái hiện lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc. Khuyến khích xuất bản các đề tài viết về công cuộc đổi mới, thể hiện những nhân tố tích cực trong xã hội, những nhân vật tiêu biểu của thời đại, cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên của con người.

Chú trọng khai thác di sản văn hóa, văn nghệ của tất cả các dân tộc sống trên địa bàn tỉnh để phổ biến, lưu giữ dưới dạng xuất bản phẩm.

Sách cho thiếu nhi

Mảng sách giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng nhân ái, tính cộng đồng.

Mảng sách hướng nghiệp, sách dạy nghề, sách tự học nâng cao trí thức.

Mảng sách giáo dục thể chất, hướng dẫn tập luyện cơ thể, rèn luyện sức khoẻ và vẻ đẹp cho thanh niên.

Mảng sách văn học nghệ thuật dưới nhiều hình thức và thể loại với nội dung thích hợp, thoả mãn nhu cầu đọc nhanh, đọc nhiều, thích tìm tòi, khám phá của lớp trẻ.

1.1.2. về mô hình tổ chức, hình thức hoạt động

Mô hình tổ chức

Hiện nay, mô hình tổ chức của nhà xuất bản có rất nhiều, nhưng Lạng Sơn là một tỉnh thành lập sau, do vậy sẽ phát triển theo một mô hình mới, có sự liên doanh, liên kết với các cơ sở in, các công ty phát hành, thành lập nhà xuất bản đảm nhận cả ba khâu xuất bản, in, phát hành.

1.3 Đầu tư cơ sở vật chất

Sau khi thành lập, nhà xuất bản Lạng Sơn sẽ đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hóa qui trình biên tập và thực hiện quản lý xuất bản phẩm theo chuẩn quốc tế (ISBN).

1.1.4 Nguồn nhân lực

Tổng số nhân lực nhà xuất bản có 10 người, trong đó 1 tổng biên tập có trình độ thạc sỹ trở lên, 9 biên tập viên có trình độ đại học, cao đẳng trở lên.

 

2. Lĩnh vực in

 

Phát triển ngành in đến năm 2015, 2020 về cơ bản là hoàn thành nhiệm vụ nâng cấp các cơ sở in tạiLạng Sơn, đầu tư nâng cao năng lực cơ sở in và có định hướng mở rộng phạm vi ra khu vực.

               2.1. Về mô hình tổ chức và phân bố lực lượng sản xuất

Mô hình tổ chức

Mô hình tổ chức của lĩnh vực in Lạng Sơn hướng tới doanh nghiệp xuất bản - in - phát hành sách hoạt động tổng hợp trên cả ba mảng.

Tiếp tục hiện đại hóa các cơ sở in tại trung tâm thành phố Lạng Sơn. Cần tạo ra năng lực công nghệ mạnh ở cả ba công đoạn: chế bản, in, và gia công sau in; đảm bảo in được các ấn phẩm trọng yếu của tỉnh như các tờ Báo Lạng Sơn, tạp chí văn nghệ xứ Lạng, các bản tin.

2.2. Về công nghệ

Quá trình offset hóa ngành in Lạng Sơn về cơ bản đã hoàn thành, tuy còn một số khiếm khuyết như đã phân tích ở phần hiện trạng. Từ 2009 đến 2015 là thời kỳ tiếp tục hoàn thiện và hiện đại hóa in offset với những công nghệ, thiết bị tiên tiến. Bên cạnh việc ứng dụng phương pháp in offset, cần đầu tư thêm công nghệ in ống đồng và in flexo cho các loại bao bì màng mỏng phức hợp và bao bì các tông. Thiết bị in offset sẽ đầu tư cho khu vực doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu là máy mới, mức độ hiện đại phù hợp với mục đích sử dụng và khả năng về vốn.

- Công đoạn trước in: đã tương đối mạnh về số lượng, đáp ứng được nhu cầu về chế bản phim cho in offset. Từ nay đến năm 2015 cần tập trung vào vấn đề mấu chốt là đào tạo, kể cả đào tạo ở nước ngoài nhằm mục đích khai thác hết tính năng và công suất thiết bị trước in.

Một vấn đề nữa của công đoạn trước in là sự không đồng bộ trong quá trình sản xuất. Cần khắc phục nhược điểm này bằng cách đầu tư đồng bộ các thiết bị sau phân màu như: máy phơi, máy hiện bản hiện đại và sử dụng bản in tráng sẵn đối với các sản phẩm in  màu.

Từ nay đến năm 2015, cần áp dụng thí điểm các công nghệ chế bản không phim (Computer to plate) và in kỹ thuật số không sử dụng bản thông thường (computer to print) ở một số cơ sở in có nhu cầu in nhanh.

Đối với phương pháp in ống đồng, cần đầu tư máy khắc phân màu bằng tia lade để khắc ống đồng đáp ứng khoảng 80% nhu cầu của các cơ sở in trong khu vực, tiến tới nhận gia công cho các tỉnh khu vực và một phần thị trường ngoài nước. Đối với công nghệ in flexo cần áp dụng mạnh mẽ hơn việc sử dụng bản in photo-polymer.

- Công đoạn in: cần đầu tư máy in cho các nhà in tại các khu vực trọng điểm trong tỉnh, trong đó chú trọng ưu tiên công nghệ mới cho trọng điểm thành phố Lạng Sơn nơi có trường in phong phú, có thể hoàn vốn nhanh; bố trí một phần vốn ngân sách cho các khu vực trọng điểm còn lại, đặc biệt là khu vực các huyện miền núi chưa có cơ sở in.

Để hiện đại hóa một bước quá trình in phục vụ việc sản xuất các tạp chí và ấn phẩm cao cấp khác như catalogue, quảng cáo, phục vụ cho nhu cầu tương lai trong khu vực, từ nay đến năm 2015, cần bố trí vốn tín dụng để đầu tư thêm một số dây chuyền in offset cuốn có sấy hiện đại (heatset) ở trung tâm in thành phố Lạng Sơn.

- Công đoạn gia công hoàn thiện sản phẩm: cần tập trung xây dựng ở trung tâm in hệ thống đóng sách bìa cứng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có công suất phù hợp. Đối với các cơ sở in sách giáo khoa, cần đầu tư các thiết bị đóng sách bằng keo dán tổng hợp, khâu chỉ và khâu chỉ nhiệt. Bên cạnh vật liệu truyền thống là bìa các tông cần áp dụng một số vật liệu mới bằng chất dẻo tổng hợp. Hướng đầu tư của quá trình này là dây chuyền liên hoàn từ gấp, bắt, đóng, vào bìa. Thiết bị lẻ dùng cho loại cơ sở in có quy mô nhỏ hoặc để thay thế một thiết bị trong dây chuyền.

2.3. Chiến lược sản phẩm của ngành in 

            Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng sản lượng ấn phẩm có giá trị cao, trong đó sách khoảng 10 - 15%, báo chí trên 20 - 25% và còn có xu hướng tăng (chủ yếu do tăng trang, tăng kỳ và màu); bao bì, nhãn hàng trên giấy khoảng 25%; quảng cáo khoảng 10 - 15%, còn lại là các nhu cầu về giấy tờ quản lý, các loại chứng từ, chứng chỉ, sổ sách các loại và nhu cầu khác.

            Cần tập trung nghiên cứu và đầu tư vào lĩnh vực in các sản phẩm bao bì trên các loại vật liệu khác nhau như màng mỏng phức hợp, giấy, các tông và kim loại. Đặc biệt, cần gắn việc nghiên cứu nói trên với việc bảo vệ môi trường, ưu tiên sử dụng công nghệ không gây ô nhiễm hoặc các vật liệu không phải tốn kém khi xử lý rác thải do khối lượng bao bì tiêu dùng ngày càng tăng lên. Đây đang là vấn đề nan giải và tốn kém từ kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển.

3. Lĩnh vực phát hành

3.1 Mô hình tổ chức

Theo tinh thần xã hội hóa lĩnh vực phát hành, trong giai đoạn tới sẽ phát triển lĩnh vực phát hành bằng các loại hình tổ chức sau:

- Doanh nghiệp (với nhiều loại hình)

- Đơn vị sự nghiệp có thu

- Hộ kinh doanh cá thể.

Bên cạnh các mô hình hoạt động trên đây cần khuyến khích các kênh phát hành thông qua các tổ chức xã hội, các đoàn thể để đưa xuất bản phẩm đến các đối tượng khác nhau.

- Xã hội hóa hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm theo tinh thần luật sửa đổi bổ sung của luật xuất bản; khuyến khích các thành phần kinh tế đủ năng lực tham gia xuất khẩu xuất bản phẩm.

3.2. Cơ sở vật chất ngành phát hành

            - Hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng hiệu sách cấp huyện theo chương trình đầu tư phát triển văn hóa thông tin ở địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn thuộc khu vực III.

            -  Trang bị xe lưu động cho các huyện miền núi thuộc diện ưu tiên đầu tư của Nhà nước.

            Đến năm 2015:

- Hầu hết các huyện có trung tâm sách tự chọn theo mô hình phù hợp với nhu cầu và mục tiêu công ích.

- Đối với các xã, thôn: có cửa hàng sách và các thư viện sách đáp ứng được nhu cầu của người dân.

Đến năm 2020:

- Xây dựng hệ thống cửa hàng sách cấp huyện đối với các huyện miền núi vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn.

3.3 Tổ chức mạng lưới

- Thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động phát hành xuất bản phẩm bằng cách khuyến khích các nhà xuất bản, các thành phần ngoài quốc doanh tham gia tích cực vào phát hành xuất bản phẩm;

- Đầu tư có trọng điểm cho các doanh nghiệp phát hành có năng lực trong tỉnh. Mặt khác, huy động đầu tư đồng loạt bằng nhiều nguồn vốn để hiện đại hóa về công nghệ, cơ sở vật chất cho các doanh nghiệp phát hành sách trên toàn tỉnh;

Đến năm 2015:

- Phát triển hệ thống phát hành sách cấp huyện đến các huyện miềm núi đặc biệt khó khăn; có hình thức thích hợp đưa sách về tất cả các xã trong toàn tỉnh;

- Tổ chức các đơn vị phát hành sách xây dựng cơ sở phát hành đến cấp xã, mỗi xã, hoặc cụm xã sẽ có 1 trung tâm phát hành, phục vụ nhu cầu tại chỗ.

- Tổ chức Hội chợ triển lãm sách trong nước định kỳ hàng năm để thu hút các nhà xuất bản lớn trong nước tham gia, giao lưu trao đổi xuất bản phẩm;

Đến năm 2020

- Mở rộng mạng lưới tiêu thụ xuất bản phẩm đến xã, cụm thôn, bản thông qua các điểm bưu điện văn hóa xã. Xây dựng hiệu sách ở tất cả các cụm xã trên địa bàn toàn tỉnh, các hiệu sách ở các thị trấn, thị tứ và khu đông dân cư thì có quy mô lớn và số lượng xuất bản phẩm đa dạng, phong phú.

- 100% trung tâm các huyện có siêu thị sách hiện đại, cung cấp nhiều ấn phẩm, sách báo phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực đó, đặc biệt tạo dựng kho sách về thế mạnh của vùng.

3.4. Đổi mới phương thức phát hành

Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin, bên cạnh việc nâng cao phương thức phát hành phát hành sách truyền thống, cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng đa dạng hóa, hiện đại hóa nhằm đưa sách đến mọi miền đất nước nhanh chóng và hiệu quả theo hướng sau:

- Các siêu thị sách vừa là trung tâm văn hóa, giải trí đa dạng kết hợp bán sách, báo với một số mặt hàng phù hợp như đồ thủ công mỹ nghệ, mặt hàng tiêu dùng thiết yếu không phải lương thực thực phẩm, mỹ phẩm v. v... Siêu thị sách cũng là nơi giao lưu giữa người viết với người đọc, tổ chức bình thơ, ngâm thơ hoặc bầu chọn sách hay, sách đẹp v.v...

- Thực hiện bán sách theo phương pháp tiên tiến: tự chọn, tự động, bán theo đơn đặt hàng, bán qua mạng internet, tiến tới kết hợp với bưu điện giao sách tại nhà như phát hành báo chí.

- Tổ chức các xe phát hành sách lưu động, phấn đấu các huyện đều có đội bán sách lưu động chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp nhằm đưa sách tới vùng sâu, vùng xã hoặc phục vụ đắc lực cho các hoạt động chính trị xã hội khác theo phương thức Nhà nước và các thành phần kinh tế cùng tham gia thông qua các tổ chức, đoàn thể như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên ...

III. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH XUẤT BẢN

Trong định hướng phát triển và quy hoạch ngành Xuất bản, In, Phát hành tỉnh Lạng Sơn, đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất và bản lĩnh chính trị; có năng lực chuyên môn giỏi; biết tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhân tố có tính quyết định cho sự thành bại của quá trình phát triển.

Những mục tiêu đào tạo cần đạt được là:

- Mở các lớp và khóa học liên kết của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề trên cả nước.

- Xây dựng và từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ sở đào tạo chuyên ngành ngay tại tỉnh.

- Xây dựng, đổi mới và nâng cao chất lượng, tính khoa học, thực tiễn của chương trình, nội dung đào tạo; tạo điều điều kiện để các cơ sở đào tạo có chương trình phù hợp với tỉnh.

- Thực hiện việc đào tạo trong nước là chủ yếu kết hợp với liên kết bồi dưỡng, đào tạo với nước ngoài trên một số lĩnh vực cần thiết, đặc biệt là giai đoạn sau 2015, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở mức cao, phát triển xuất bản - in - phát hành, công nghiệp phụ trợ cho xuất bản - in - phát hành này tại tỉnh.

- Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự nghiệp đào tạo phát triển; gắn việc đào tạo với sử dụng, gắn học với hành; xác định trách nhiệm, quyền lợi giữa người học - nơi đào tạo - nơi sử dụng, nâng cao chất lượng người học khi ra trường.

Xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo cán bộ, công nhân, nhân viên ngành xuất bản, in, phát hành sách.

- Đào tạo cán bộ trung cấp, công nhân và nhân viên

Kết hợp với trường trung học Kỹ thuật in Hà Nội mở các khóa đào tạo công nhân kỹ thuật ngành in tại tỉnh.

Bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ

Đối với tất cả các cán bộ quản lý cơ sở in, tổ chức phát hành xuất bản phẩm từ cấp phòng trở lên phải được đào tạo trình độ chuyên môn từ đại học trở lên.

Hàng năm, cần duy trì các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ để bổ sung, cập nhật kiến thức nghiệp vụ về xuất bản, in, phát hành và kiến thức về kinh tế thị trường cho đội ngũ cán bộ biên tập, cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ và cán bộ quản lý đang làm việc ở nhà xuất bản, cơ sở in và phát hành.

Đối với các thành phần kinh tế khác, từ nay đến năm 2015, hàng năm tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn cho các đối tượng lao động quản lý hoạt động xuất bản, in, phát hành sách.

Tận dụng mọi khả năng để đào tạo bậc đại học và sau đại học ở nước ngoài, kết hợp với việc chủ động gửi đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn vốn nhà nước hoặc vốn của các đơn vị cơ sở.

Quy mô đào tạo

Hàng năm, thay thế lao động tự nhiên và những biến động khác trong ngành xuất bản khoảng từ 3 - 5% tổng số lao động, trong đó ngành in chiếm đa số, sau đó đến phát hành.

Kinh phí đào tạo

Kinh phí đào tạo gồm các nguồn:

- Ngân sách Nhà nước:

Chi thường xuyên cho hoạt động của trường bao gồm: xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho cơ sở đào tạo; học bổng, cử đào tạo ở trong nước và nước ngoài.

Chi cho hoạt động bồi dưỡng kiến thức quản lý và nghiệp vụ:

- Quỹ đào tạo tập trung:

Do các cơ sở xuất bản, in, phát hành sách đóng góp từ doanh thu.